Lô hội là gì?

Lô hội thuộc dạng cây thân mọng nước và là một trong những vị thuốc quý được sử dụng nhiều trong đông y, ngoài ra lô hội được trồng làm cảnh. Cây sống dai, có khi không có thân, có khi thân cao lên hóa thành gỗ, ngắn, to, thô. Lá mọng nước, tiết diện 3 cạnh, có gai ở mép lá, mặt lá có đốm trắng, lá không cuống, đầu nhọn sắc, dài 20-30cm, rộng 3-5cm, dày 1-1,5cm. Lá mọc thành cụm như hoa thị ở gốc. Hoa có cán dài đến 1m, màu vàng đỏ, hợp thành chùm dài. Quả nang hình trứng thuôn, lúc đầu màu xanh sau nâu và dai, có 3 ô, mỗi ô đựng nhiều hạt. Cây ra hoa và mù Thu.

Lô hội có tên khoa học là Aloe vera L var. Chinensis (Haw) Berger thuộc họ hành tỏi (Liliaceae) và được biết với các tên khác như: Chân Lô Hội, Nha Đam, Dương Lô Hội, Lô Khoái, Nội Hội, Nột Hôi, Quỷ Đan, Tượng Hội, Tượng Đởm (Bản Thảo Thập Di), Lưỡi Hổ, Hổ Thiệt, Nha Đam.

Phân bố:

Lô hội có nguồn từ Bắc Phi, Nha đam mọc nhiều ở các vùng Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí thuộc các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Chúng chịu hạn hán và khô nóng rất giỏi. Vì thế chúng được trồng rải rác khắp Việt Nam để làm thuốc hoặc làm cây cảnh.

Cây Lô hội, Công dụng, Cách dùng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?
Cây Lô hội, Công dụng, Cách dùng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh?

Bộ phận dùng:

Lô hội dùng làm thuốc là những cục nhựa có dạng tinh thể màu nâu đen óng ánh, khi khô thì giòn. Tan trong rượu, hoàn toàn tan trong nướcsôi, vị đắng. Dùng loại khối nhựa khô, sắc đen vàng, hơi có ánh bóng, dễ nát, không lẫn tạp chất là loại tốt. Loại của cây Aloe vera L. gọi là Lão Lô hội, loại của cây Aloe ferox Mill. Gọi là Tân Lô hội.

Thành phần hóa học có trong lô hội:

Theo các nghiên cứu đã chỉ ra, thành phần hóa học có trong lô hội bao gồm các chất chính như: Các dẫn chất anthranoid, Aloe emodin, Barbaloin, các chất Aloinosit A, Aloinosit B, Anthranol, aloin, Aloezin, Aloenin, Aloectin B… Chất nhựa ester của axít cinnamic, axít hysophanic.

Những nghiên cứu khoa học về công dụng của lô hội:

Nghiên cứu cho thấy nước sắc Lô hội có tác dụng ức chế tim cô lập của ếch.

Nước ngâm kiệt Lô hội có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau đối với nấm gây bệnh ngoài da.

Nước sắc Lô Hội 10% bôi trên thỏ và chuột thấy rút ngắn được thời gian điều trị. Trong những năm gần đây, nướcsắc Lô hội dùng điều trị phỏng có kết quả tốt, 1 số trường hợp cho thấy Lô hội kháng được với Pseudomonas aeruginosa.

Lô hội chiết xuất bằng alcohol có tác dụng ức chế sự phát triển của 1 số khối u và xơ gan cổ trướng.

Theo một số tài liệu ghi chép của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cho biết, lô hội có tác dụng nhuận gan, nhuận trường và điều kinh, giúp hỗ trợ điều trị bệnh táo bón.

Vào năm 2006, các nhà khoa học đã nghiên cứu và công bố trên tờ Biological and Pharmaceutical Bulletin về tác dụng điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2 của gel nha đam nhờ hoạt chất phytosterol chứa trong nó.

Theo nhiều nghiên cứu ở Nga và Mỹ vào năm 1930 đã cho thấy, phần gel và thịt của cây lô hội có tác dụng làm lành vết thương nhanh chóng.

Nghiên cứu cho thấy hoạt chất anthraquinon có trong lô hội có tác dụng kết hợp với các ion canxi trong đường tiểu, giúp chuyển hóa thành các hợp chất tan đường và tống khứ ra ngoài theo đường tiểu.

Công dụng của lô hội:

  • Có tác dụng giúp kháng khuẩn, chống viêm, chống lão hóa.
  • Hỗ trợ trị cháy nắng, giảm đau.
  • Hỗ trợ giúp thanh nhiệt, giải độc, tăng cường hệ miễn dịch.
  • Hỗ trợ kích thích ăn uống, tăng cường lưu thông máu, khỏe tim và giúp nhuận tràng, hỗ trợ trị táo bón.
  • Hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường và hỗ trợ làm lành vết thương.
  • Hỗ trợ chữa viêm loét dạ dày và phòng ngừa sỏi niệu.
  • Làm sạch và bảo vệ da.
  • Hỗ trợ điều trị tình trạng ngứa ngáy do bệnh vẩy nến, viêm da dầu, á sừng gây ra.
  • Hỗ trợ chữa viêm xương khớp và hỗ trợ chữa bệnh hen suyễn.

Một số bài thuốc từ cây lô hội:

Trị táo bón (do trường vị thực nhiệt) mạn tính:

Lô hội 20g, Chu sa 15g, cùng tán nhỏ, hòa với ít rượu làm viên. Mỗi lần uống 4g với rượu hoặcnướccơm, ngày 2 lần.

Trị táo bón, tiểu bí do nhiệt kết:

Lô hội 6g, Nghiền nát. Phân ra cho vào 6 viên nang nhỏ. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-3 viên nang. Nếu không có viên nang, dùng đường trộn với thuốc, ngậm nuốt dần.

Trị màng tiếp hợp viêm cấp:

Lô hội 3g, Hồ hoàngliên 3g, Đương quy 10g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 3g, Vô di 10g, Mộc hương 3g, Long đởm thảo 6g. Sắc nước uống.

Trị Can Đởm thực nhiệt gây ra táo bón, tiểu đỏ, ít, hoa mắt, chóng mặt, nặng hơn thì co giật, phát cuồng, nói nhảm:

Lô hội, Đại hoàng, Thanh đại (thủy phi), mỗi thứ 4g, Đương quy, Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Hoàng bá, Hoàng liên mỗi thứ 6g, Mộc hương 5,5g, Xạ hương 0,3g (để riêng). Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6-10g, ngày 3 lần.

Trị cam nhiệt, giun đũa:

Lô hội 15g, tán bột. Mỗi ngày uống 6g lúc đói với nước ấm.

Trị cam tích, táo bón, giun đũa, suy dinh dưỡng:

Lô hội, Diên hồ sách, Mộc hương đều 3g, Vô di Thanh bì đều 6g, Đương quy, Phục linh, Trần bì đều 10g, Chích thảo 3g. Tán bột, trộn hồ làm hoàn. Ngày uống 4-6g.

Trị ghẻ lở, lở loét hậu môn:

Lô hội 30g, Cam thảo 15g. Tán bột. Dùng nướcđậu hũ rửa chỗ loét rồi đắp thuốc vào.

Trị mụn mặt ở thanh niên:

Chế cao xoa mặt có gia thêm nướclá Lô hội 5-7%, xoa ngày 1-3 lần.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không tự ý bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Để biết thêm thông tin cụ thể vui lòng tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.

Đang có thai hoặc đang hành kinh không dùng.

Người Tỳ hư hàn, rối loạn tiêu hóa không dùng.

Tỳ Vị suy yếu, tiêu chảy, phụ nữ có thai không dùng.

5/5 (1 Review)
Từ khóa: