Cây Mật nhân (Tongkat Ali) là cây gì?

Mật nhân (Tongkat Ali) có tên khoa học là Eurycoma longifolia Jack (Crasula pinnata Lour) thuộc họ Thanh Thất – Simaroubaceae. Trong dân gian, Mật nhân Tongkat Ali còn được gọi với tên khác như bách bệnh, mật nhân, bá bệnh, hậu phác,… . Bên Lào gọi cây này là tho nan, bên Campuchia là antoung sar.

Mật nhân Tongkat Ali thuộc dòng cây thân mảnh, có chiều cao trung bình lên tới khoảng 8 – 9m, cây ít phân cành phát triển ở những rừng thấp, trên đất sỏi, ưa chua và dẫn lưu nước tốt. Là lá chét không cuống, mọc đối nhau, lá có hình mác hoạc bầu dục, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên xanh sẫm bóng, mặt dưới có phủ một lớp lông mỏng màu trắng xám, cuống lá kép có màu nâu đỏ.

Hoa mọc theo từng cụm ở ngọn tụm lại thành các chùm kép hoặc chùy rộng, cuống có lông nhỏ màu gỉ sắt. Vào mùa hoa tháng 1 -2 hoa sẽ phủ lên mình một màu đỏ nâu đẹp mắt, đài hoa phát triển chia thành 5 thùy hình tam giác có tuyến ở lưng. Tràng hoa có 5 cách hình thoi, nhị 5 có lông dày hơn và hia vảy ở gốc, bầu có chứa 5 noãn, dính với nhau ở gốc và đầu nhụy rời.

Cây Mật nhân, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!
Cây Mật nhân, Công dụng, Dược tính, Bài thuốc chữa bệnh!

Mùa quả thường bắt đầu từ đầu tháng 3 tới cuối tháng 4, vỏn vẹn chỉ 2 tháng. Quả hạch, hình trứng, nhẵn có rãnh dọc, khi chín chuyển màu vàng đỏ, bên trong có hạt.

Rễ cây là rễ trụ tròn, đường kính chỉ khoảng tầm 5 – 7 cm, do phải đi tìm nguồn nước ở nhiều nơi nên rễ thường hơi cong, mặt ngoài chì màu vàng nâu, có loại rễ sẽ trơn, cũng có loại hơi xù xì, xung quang có rễ con phát triển. Cắt ngang rễ màu trắng ngà, có lớp bần mỏng, không thấy vân đồng tâm. Chất cứng, khó bẻ gãy, chỉ có thể dùng tới dao để chặt đứt thành từng đoạn.

Phân bố:

Bắt nguồn từ các nước trong khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Indonesia, tại đây được người dân phát hiện và nuôi trồng, mang bán sang các nước khác. Nhờ vào những công dụng thần kỳ từ Mật Nhân Tongkat Ali mà loài cây này giờ đây đã được phát triển rộng rãi sang các nước lân cận, ban đầu chỉ khu vực Đông Nam Á và giờ đây Mật nhân trở thành loại thảo dược hàng đầu của các nước Châu Á, Châu Âu và cả Châu Mỹ.

Bộ phận dùng:

Về cơ bản thì Mật nhân Tongkat Ali được dùng cả cây: vỏ thân, rễ, lá. Chúng được đem đi sấy khô bọc túi dùng dần, chũng có thể dùng tươi sắc nước.

Thành phần hóa học:

Theo các nghiên cứu thu được trong vỏ và gỗ cây Tongkat Ali người ta đã chiết suất ra các chất sau:

  • Các hợp chất quassinoid: eurycomalacton, 6-α-hydroxyeurycomalacton, longilacton, 5, 6-dehydro-eurycomalacton, 14, 15-β-dihydroxyklaineanon, 11-dehydroklaineanon, các quassinoid có tác dụng diệt vi trùng sốt rét Plasmodium falcifarum đã kháng thuốc.
  • Các hợp chất triterpen loại lirucalan: niloticin, dihydroniloticin, piscidinol A, bourjotinolon A, episapelin A, melianon và hyspidron.
  • Từ rễ đã phân lập được 3 quassinoid: eurycoinanol, eurycomanol 2-O-β-D-glucopyranosid và 13β, 18-dihydroeurycomanol.
  • Các alkaloid loại canthin-6-on được phân lập từ vỏ và gỗ: 9, 10-dimethoxycanthin-6-on, 10-hydroxy-9-methoxy-canthin-6-on, 11 hydroxy-10-methoxy- canthin-6-on, 5, 9-dimethoxycanthin-6-on và 9-methoxy-3 methyl-canthin-5, 6 – dion. Ngoài ra còn có các alkaloid carbolin.
  • Từ vỏ cây bách bệnh ở miền Đông Nam Bộ Việt Nam đã xác định được thành phần hai chất đắng euricomalacton và 2. 6 dimethoxybenzoquinon. Ngoài ra, còn campestrol, và β-sitosterol.

Nghiên cứu khoa học về câyMật nhân Tongkat Ali:

Cao được bào chế từ Tongkat Ali có tác dụng kháng ký sinh trùng sốt rét trong thử nghiệm nuôi cấy in vitro.

Một chế phẩm thuốc gồm 3 dược liệu: mật nhân, trâm bầu và xấu hổ có độc tính cấp diễn và trường diễn rất thấp. Thuốc có tác dụng lợi mật rõ rệt và không làm thay đổi thành phần của mật ở chuột lang. Thuốc làm tăng thải trừ BSP của gan thỏ so với đối chứng.

Mật nhân còn có tác dụng tăng dục, có mối tương quan giữa hoạt tính kích thích sinh dục nam và lượng nội tiết tố sinh dục nam trong huyết thanh, thân và rễ bách bệnh làm tăng lượng testosteron trong huyết thanh động vật. Đặc biệt,sử dụng rễ còn làm tăng testosteron nhiều hơn thân cây.

Chế phẩm thuốc này có tác dụng làm chậm quá trình hư biến của gan chuột cống trắng gây nên do carbon tetraclorid. Nó cũng làm tăng sự tái tạo của tế bào gan chuột nhắt trăng trong mô hình gây thương tổn gan thực nghiệm.

Áp dụng trên bệnh nhân có chỉ định điều trị lợi mật, chế phẩm gồm mật nhân, trâm bầu và xấu hổ đã làm giảm bilirubin – máu một cách có ý nghĩa.
Theo tài liệu “Những cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”:Mật nhân Tongkat Ali có tác dụng tăng dục. Có mối tương quan giữa hoạt tính kích thích sinh dục nam và lượng nội tiết tố sinh dục nam trong huyết thanh. Thân và rễ bách bệnh làm tăng lượng nội tiết tố nam trong huyết thanh động vật, rễ làm tăng nội tiết tố nam nhiều hơn thân cây.

Theo đông y:

Vị đắng, quy (đi vào) kinh can và thận, có tác dụng bổ dưỡng cho người bị khí huyết hư, gân xương đau nhức, tê chân tay, rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy hay kiết lỵ đều dùng được), phòng ngừa tứ thời cảm mạo. Ngoài ra,Mật nhân Tongkat Ali còn chữa được chứng thống kinh (phụ nữ bị đau bụng lúc hành kinh), chứng ách nghịch ở ngực (đau tức ngực do khí ứ không thông).  

“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” (Chủ biên: Đỗ Huy Bích), đã đúc rút kinh nghiệm trong dân gian, vỏ thân cây Tongkat Ali được dùng chữa các trường hợp ăn uống không tiêu, nôn mửa, đầy bụng tiêu chảy, gần như vị hậu phác, còn có thể chữa sốt rét, giải độc do uống nhiều rượu và chữa lưng đau mỏi do thấp, vỏ phơi khô tán bột, ngâm rượu hay làm thành viên, hoặc sắc uống. Ngày nên dùng khoảng 6 -12g. Quả chữa lỵ. Rễ chữa ngộ độc và tẩy giun. Lá nấu nước tăm chữa lở ghẻ.

Theo kinh nghiệm dân gian Indonesia, nước sắc của lá hoặc vỏ thân Tongkat Ali được coi là vị thuốc cổ truyền tốt nhất để chữa sốt rét. Có ý kiến cho là nó có hiệu lực tương đương với viên nén cloroquin trong điều trị sốt rét.

Nước sắc lá dược dùng làm thuốc chữa đau lưng, đau bụng âm ỉ, Nhiễm khuẩn đường tiết niệu và những rối loạn về khớp.

Nước sắc lá Tongkat Ali cùng với lá một loài lấu (có thể là Psychotria malayana) được dùng uống chữa sốt, với lá một loài Uncaria điều trị tiểu tiện ra máu, với lá cây Ngoi điều trị những rối loạn về khớp.

Ngoài ra,Mật nhân Tongkat Ali được coi như là một thảo dược số 1 về khả năng kích thích tình dục và làm chậm quá trình mãn dục nam.

Một số bài thuốc dùng cho Mật nhân Tongkat Ali:

Chữa chàm ở trẻ nhỏ, chữa lở ngứa, ghẻ:

Lá bách bệnh đun nước tắm, rửa sạch chỗ bị chàm rồi giã nát đắp lên, cứ lặp lại tới khi khỏi hẳn.

Tư bô âm huyết thang, chữa âm huyết suy kém, tê bại nửa người bên phải, nóng đau:
Mật nhân Tongkat Ali 6g, đậu đen 12g, hà thủ ô đỏ 10g, dây gùi 8g, huyết rồng 8g, rau muống biển 8g, rễ nhàu 8g, rễ ô môi 8g, rễ cỏ xước 8g, tang chi 8g, dây ký ninh 2g. Đem tất cả đi sắc lấy nước uống.

Tăng cường sinh lực, hỗ trợ điều trị yếu sinh lý ở nam giới:

Rễ Bách bệnh 400mg, tinh chất nhân sâm 50mg, linh chi 50mg được bào chế thành viên nang. Liều lượng và cách dùng theo chỉ định và hướng dẫn của thầy thuốc Đông y, không được tự ý sử dụng khi không biết chính xác liều lượng, có thể gây ngộ độc.

Bá ứng tiêu hạ tán, chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi chướng bụng:

Mật nhân Tongkat Ali 50g, vỏ quýt 100g, hoắc hương 100g, bồ bồ 100g, dây mơ 100g, dây rơm 100g, cam thảo nam 100g, hậu phác 100g, củ sả 50g, củ gấu 50g, tiêu lốt 50g. Đem các vị trên tán nhỏ,người lớn ngày uống 12g, trẻ em tùy theo tuổi mà quy định liều dùng.

Chữa đầy bụng, ăn không tiêu:

Vỏ bách bệnh 12g, trần bì 8g, can khương 4g, đậu khấu 6g, xích phục linh 12g, cam thảo 4g. Sắc uống mỗi ngày một thang, uống liên tục 5 – 7 ngày.

Chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông, đau bụng khi có kinh:

Rễ bách bệnh 15g, sắc uống ngày 1 thang. Dùng  liên tục trong 7 – 10 ngày.

Kích thích tiêu hóa:

Mật nhân Tongkat Ali 20g, 10 quả chuối sứ khô nướng vàng, ngâm với 1 lít rượu trắng, ngâm khoảng 7 ngày là dùng được, ngày dùng 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ (khoảng 30 ml).

Ôn kinh trợ dương điều khí thang, chữa bại liệt nửa người bên phải, do dưỡng khí suy, phong tê, mình lạnh tê dại:

– 4g Mật nhân Tongkat Ali + 10g rễ đinh lăng +8g  xấu hổ sao vàng +8g  dây đau xương + 8g đậu chiều sao vàng + 8g dây trâu cổ + 6g cây thần sa + 5g bạch hồ tiêu (quả chín phơi khô, sát bỏ vỏ ngoài) + 5g quế chi + 3g gừng sống = tất cả đem sắc chung lấy nước uống.

Lưu ý:

Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không bốc thuốc theo thang hướng dẫn. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ thầy thuốc hoặc bác sĩ để biết thêm thông tin.

Không dùng cho phụ nữ có thai.

Không dùng cho trẻ nhỏ.

5/5 (1 Review)
Từ khóa: